Phần 5

1 tháng trước

Chương 17

— Nam Nhi…

— Ừm?

Hắn nhẹ nhàng vuốt ve tấm lưng trần của ta:
— Nàng còn nhớ chuyện đại ca có một người thiếp bị ngã sẩy thai, và đó là thai nam không?

— Chuyện cũ nhiều năm rồi, sao tự nhiên chàng lại nhắc? – ta mệt mỏi hỏi.

— Ba năm trước, sau khi chúng ta rời khỏi kinh thành, nàng ta đã tìm đến Tôn di nương.

Ta tỉnh táo hẳn:
— Tìm nàng ta làm gì?

Hắn hôn lên trán ta:
— Nàng ta muốn báo thù. Muốn hại đại tẩu và Trác nhi, báo thù cho đứa con chưa kịp chào đời. Nhưng nàng ta đã thất sủng từ lâu, không có tiền, cũng chẳng có người để sai khiến. Vì thế nàng ta tìm đến Tôn di nương – bởi Tôn di nương có tiền, cũng có người. Nàng ta bảo với Tôn di nương rằng hai người đồng bệnh tương liên, vì đứa con của Tôn di nương cũng không giữ được. Nàng ta còn xúi giục, nói rằng Tôn di nương vốn là tiểu thư khuê các, thiên kim tiểu thư – chỉ cần ta chết đi, nàng ấy có thể được nâng lên làm chính thất… Họ đi tìm một bà đạo…

— Vu cổ thuật? – ta nhíu mày hỏi.

— Ừ – Phạm Tằng trầm giọng đáp.

— Nàng ta định hại riêng ta, hay còn hại cả các con nữa?

— Không rõ. Vì nàng ta chưa kịp ra tay thì người đàn bà kia bị phát hiện khi đang lấy trộm tóc và quần áo của đại tẩu. Loại chuyện này là đại kỵ. Phụ thân và mẫu thân nhất quyết điều tra đến cùng. Thế là tra ra bà đạo kia, tra ra nhũ mẫu của Tôn di nương, rồi tra đến nàng ta.

Ta day day huyệt Thái Dương. Chuyện này chẳng đáng sợ – ta vốn chẳng tin quỷ thần – nhưng đủ để làm người ta phát tởm.

Phạm Tằng vừa xoa nhẹ lưng ta, vừa hôn lên trán:
— Tất cả những kẻ liên quan đều bị đánh chết, kể cả tên nhũ mẫu ấy. Mẫu thân vẫn chưa yên tâm, liền đem toàn bộ người hầu hạ Tôn di nương bán đi, rồi thay bằng người mới, ngày đêm giám sát, không cho nàng ra khỏi cửa, cũng dạy nàng quy củ của một người thiếp. Vốn dĩ với việc nàng làm, nàng đã không thể sống. Nhưng mẹ nàng ta là em ruột của phụ thân, cuối cùng phụ thân nhớ chút tình máu mủ nên tha cho nàng. Phụ thân đã nói với nàng: chuyện này sẽ không cho ai biết, nhưng từ nay về sau không còn tình thân thích gì nữa. Sau này, nàng chỉ là một thiếp thất bình thường, nếu còn xảy ra chuyện gì nữa, phụ thân cũng sẽ không che chở nữa, nàng tự liệu. Rồi phụ thân sai người kể hết mọi chuyện cho ta.

— Lúc Tôn di nương đi cầu lão gia và thái thái để được đến chỗ chúng ta…

— Chính là lúc chuyện ấy đang xảy ra. Nàng cần tóc của nàng, tốt nhất còn có thể lấy được máu – vì thế nàng phải đến bên cạnh chúng ta. Lúc đó phụ thân răn dạy nàng, thực ra là vì chuyện vu cổ ấy.

— Thế sao hôm nay nàng còn có thể thản nhiên xuất hiện trước mặt chúng ta?

Phạm Tằng cười lạnh:
— Nàng ấy căn bản không biết ta đã biết chuyện. Lúc ấy trong phủ, mọi người chỉ biết tên thiếp kia muốn hại người, còn nhũ mẫu thì được bảo là chết vì bạo bệnh. Mẫu thân đã thanh lọc toàn bộ hạ nhân trong phủ, bán đi không ít người. Vì thế chỗ ở của nàng thay người hầu, nàng cũng chẳng thể biết được. Mà vì lúc ấy chỉ có phụ thân ra mặt, nàng nghĩ rằng chuyện này chỉ mình phụ thân biết – mà phụ thân lại nói sẽ không kể cho ai. Nàng chẳng nghĩ rằng, chuyện như thế, sao phụ thân có thể giấu ta và mẫu thân được? Đến cả đại ca và đại tẩu cũng biết nữa là.

— Nhưng thế cũng phải chột dạ chứ? – ta tự hỏi.

Trừ phi tất cả những ai biết chuyện này đều chết hết, bằng không như có lưỡi dao treo trên đầu, sao có thể không chột dạ?

— Lúc đó ta không kể với nàng, vì không muốn lấy chuyện bẩn thỉu này làm nàng ghê tởm.

— Chàng đúng là hiểu ta – ta bĩu môi – Chuyện này quả thực ghê tởm thật.

Phạm Tằng cười, lại hôn ta một cái. Hôm nay hắn hôn như nghiện. Nhưng ta mệt chết, chẳng buồn so đo.

— Giờ về phủ rồi, nàng còn mặt dày xuất hiện trước mặt chúng ta, ta mới kể chuyện này cho nàng, để nàng và các con đề phòng nàng ta.

— Hiểu rồi – ta gật đầu, rồi hơi nghi hoặc – Nàng… trước kia đâu phải người như thế. Dù sao cũng từng đọc sách, sao lại trở nên như vậy…

— Kỳ thực từ lúc mất đứa nhỏ, nàng đã thay đổi. Thời gian dưỡng bệnh, lúc đầu còn bình thường, chỉ oán ta thay lòng. Về sau còn bảo nàng câu dẫn ta. Càng nói càng quá đáng, ta liền sai người hầu của nàng trông chừng, không cho nàng gặp ai. Sau đó nàng còn bảo nàng hại nàng, nói nàng cố ý để nàng đi theo ta ra ngoài để hại đứa con của nàng. Nàng còn thề sống chết với ta rằng có chuyện ấy thật – hoàn toàn quên mất chính mình là người nằng nặc đòi đi.

Hoang tưởng bị hại?

Kỳ thực ta chẳng hiểu phụ nữ, cũng như ngày trước ta chẳng hiểu tâm sự của thất tỷ.

Cứ tưởng nàng là người phụ nữ chân thành theo đuổi tình yêu, nhưng thực ra nàng lại nhỏ nhen, dùng ảo tưởng để trốn tránh cảm giác tội lỗi và hối hận? Hay là người bệnh mắc chứng “hoang tưởng bị hại”, biến ảo tưởng thành sự thật?

Ghen tuông quả nhiên là mảnh đất màu mỡ cho tội ác nảy sinh.

Ngày trước ta còn bảo Phạm Tằng nhìn lầm Lan Đình, “trông mặt mà bắt hình dong”. Hóa ra chính ta cũng nhìn lầm người. Đàn ông đánh giá phụ nữ quả dễ mắc sai lầm này. Nhưng có lẽ Tôn di nương là loại bị kích thích rồi biến đổi. Mệt chết đi được. Ta dần dần không mở nổi mắt.

— Nam Nhi à… Ta chỉ biết chuyện bẩn thỉu này làm nàng khó chịu – Phạm Tằng cưng chiều nói.

Ai bảo? Ngày mai ta mới thu thập nàng. Con ta là nghịch lân của ta. Ai dám động đến là chết. Đó là ý nghĩ cuối cùng trước khi ta chìm vào giấc ngủ.


Ngày hôm sau, ta gọi vị thầy thuốc vẫn thường khám cho Tôn di nương đến, thẳng thắn hỏi một câu:

— Bệnh của Tôn di nương rốt cuộc có lây sang người khác được không?

Thầy thuốc do dự hồi lâu, cân nhắc thiệt hơn. Rồi ta nhận được câu trả lời như mong muốn:

— Có thể lây.

Dù khả năng lây nhiễm cực kỳ nhỏ, nhưng thầy thuốc không dám nói chắc là “không”. Vạn nhất có vị quý nhân nào đó bị lây, ông ta có chịu trách nhiệm nổi không?

— Trẻ nhỏ thân thể yếu ớt, có phải càng dễ bị lây hơn không?

So với người lớn khỏe mạnh, thầy thuốc đương nhiên đáp:
— Phải.

Tốt lắm. Trong cả nhà, đứa trẻ yếu ớt nhất chính là Phạm Trác – đang được nuôi dưỡng bên cạnh thái thái.

Ta dẫn thầy thuốc đi bẩm báo với thái thái. Với sự trợ giúp của Nghiêm thị, ngay trong ngày hôm đó, Tôn di nương đã bị đưa đến thôn trang tĩnh dưỡng.

Đừng hòng trở về nữa.

Bởi vì Nghiêm thị đã có con trai, giữa chúng ta chẳng còn mâu thuẫn gì. Cũng bởi cả hai đều là nạn nhân trong câu chuyện đó, lại thêm Nghiêm thị vô cùng coi trọng sức khỏe của Phạm Trác, chúng ta tạm thời trở thành đồng minh. Quan hệ quả thực được cải thiện. Ta vốn dĩ đã hào phóng, không phải vì vấn đề giới tính – ví dụ với con cái, ta sẽ không so đo với phụ nữ. Vì thế ta chẳng hề có địch ý với nàng. Giờ thì càng vui vẻ giao hảo với nàng. Nàng là chủ quản tương lai của Phạm gia, giao hảo với nàng chỉ có lợi.

Ta nghĩ Phạm Tằng có lẽ sẽ bị doạ sợ, có thể sẽ hơi xa lánh ta – vì đây là lần đầu tiên ta thể hiện sự tấn công.

Nhưng hắn chỉ cưng chiều nhìn ta:
— Hóa ra Nam Nhi cũng có lúc lợi hại như thế?

Ta nhe răng với hắn:
— Vì bảo vệ con cái, mẹ hiền đến mấy cũng có thể biến thành hổ cái. Chàng muốn thử không?

Hắn ôm ta, đưa tay còn lại ra trước miệng ta:
— Đến thử đi?

Ta vâng lời, cắn một cái.

— A Di Đà Phật – hắn chắp tay nhìn trời, vẻ mặt u sầu – Sư phụ nói quả không sai: gái dưới chân núi chính là hổ dữ.

Rồi hắn ôm ta cười ha hả. Ta cũng bật cười.

— Đừng sợ chuyện đó nữa – hắn áp trán vào trán ta, như thể làm thế có thể truyền niềm tin sang cho ta – Ta sẽ bảo vệ nàng và các con.

Ta thực sự đã sợ hãi vì chuyện ấy. Một kẻ điên sống bên cạnh con ta bấy lâu nay, vậy mà ta không hề hay biết. Nếu nàng ta không dùng trò vu cổ ngu xuẩn ấy, mà trực tiếp cầm dao đâm người thì sao?

Ta im lặng, ngước nhìn Phạm Tằng. Tiểu tử này chẳng lẽ thực sự ngày càng hiểu ta?

Hắn nhẹ nhàng xoa lưng ta. Ta cũng thuận thế ôm eo hắn, tựa như đang nương tựa.

Nhưng nói thật, tin hắn có thể bảo vệ chúng ta còn không bằng tin ta có thể bảo vệ hắn và các con. Biết chuyện này lâu như vậy rồi, thế mà Tôn di nương vẫn có thể vui vẻ tự do xuất hiện trước mặt chúng ta.

Đồ vô dụng!


Ta kể lại đầu đuôi câu chuyện cho Phạm Lịch và Phạm Dược nghe.

Trên đời này, bóng tối không phải không nghe không thấy là không tồn tại. Ta kể cho chúng: nguyên nhân vì sao, về đến nhà điều tra thế nào, xử lý ra sao, vì sao Tôn di nương được tha, ta dùng lý do gì để đuổi nàng đến thôn trang, thái thái và Nghiêm thị vì sao ủng hộ ta, thái độ của Phạm Tằng ra sao… tất cả, không bỏ sót một chi tiết nào.

— Trên đời này, có người tốt, cũng có kẻ xấu. Không phải ta đối xử tốt với người ta thì người ta sẽ không hại ta. Trước khi các con trưởng thành, cha và mẹ sẽ bảo vệ các con. Sau khi các con lớn lên, bước ra thế giới bên ngoài, các con sẽ gặp càng nhiều người hơn – lúc ấy các con phải tự phân biệt tốt xấu, tự bảo vệ mình. Mẹ muốn các con nhớ kỹ một câu: Hại người chi tâm bất khả hữu, phòng người chi tâm bất khả vô – ta xoa đầu chúng, kết luận.

Hai đứa con trai đều thành thật gật đầu, khiến ta chợt nhớ đến ngày xưa, bố ta cũng đã từng nói với ta những lời ấy.

Ta bảo chúng đi luyện cưỡi ngựa bắn cung. Ta bế Phạm Hề đứng nhìn.

Mãi nghĩ ngợi về chuyện cũ chẳng phải điều tốt. Vận động là cách giải tỏa cảm xúc tốt nhất, cũng là cách nhanh nhất để trở nên vui vẻ.

Chương 18

Chúng ta không bao lâu lại rời khỏi kinh thành, chuyển đến một địa phương khác – vẫn là chức huyện lệnh. Lại thêm ba năm.

Địa phương đổi càng ngày càng tốt hơn, nhưng chức vị huyện lệnh vẫn thế. Cứ mãi ở vị trí thấp, nhưng Phạm Tằng chẳng bận tâm. Tính hắn vốn có phần không màng danh lợi. Hắn muốn thực sự làm việc, chứ không phải chỉ làm quan. Bởi thế hắn chẳng hề so đo tốc độ thăng chức.

Sau chín năm làm huyện lệnh, hắn được thăng làm tri phủ. Lúc ấy, Phạm Lịch cũng đã thi đỗ, chính thức bước vào quan trường, coi như là người trưởng thành rồi.

Kỳ thực, với gia thế Phạm gia, Phạm Tằng lẽ ra phải thăng chức rất dễ dàng. Nhất phẩm quan to không dám nói, nhưng chức tam tứ phẩm thì chẳng khó. Huống chi Phạm Tằng có danh tiếng thanh liêm rất tốt, thành tích cũng thuộc hạng thượng đẳng.

Nguyên nhân là do liên lụy đến đấu tranh chính trị trong triều.

Ngày trước, Lâm gia thông gia với Phạm gia, nguyên nhân căn bản chính là thái độ của tân hoàng đối với thế gia. Đó là sự cạnh tranh giữa việc “bổ nhiệm theo thừa kế” hay theo “khoa cử”.

Thế gia thực lực khổng lồ, không cam lòng rời khỏi vũ đài lịch sử. Tân hoàng không muốn bị thế gia khống chế, muốn thu nạp và hấp thụ nhân tài từ khắp nơi trong thiên hạ. Chỉ đơn giản là vậy. Sau đó, kết quả đạt được là cùng sử dụng hai chế độ. Nhưng trên thực tế, hai phái quan viên vẫn tranh đấu rất quyết liệt.

Bởi thế, con đường làm quan của Phạm Tằng mới bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, ta thấy làm việc ở cơ sở lâu một chút cũng chẳng sao. Chín năm lên tri phủ – coi như rất nhanh rồi.

Hơn nữa, chế độ khoa cử hiện tại rất tốt. Bằng không, đợi đến khi Phạm gia thay đổi người chủ, tương lai của ba đứa con và con cháu sau này đều phải dựa vào đại ca của Phạm Tằng. Đem tiền đồ đặt vào tay người khác, chẳng bằng dựa vào thực lực của chính mình mà tranh thủ. Huống chi, đây là điều hoàng đế mong muốn và khuyến khích, cũng là xu hướng phát triển của thời đại.

Hiện nay, rất nhiều con cháu thế gia tham gia khoa cử để tiếp tục duy trì ảnh hưởng của gia tộc trong triều đình. Vì thế, đối với quyết định cho Phạm Lịch tham gia khoa thi, lão gia rất đồng ý. Thay vì chờ bị bổ nhiệm theo gia tộc, rồi bị hoàng đế kìm hãm, cuối cùng chỉ nhận được một chức hư vô giá trị, chẳng bằng đi thi cử.

Phạm Dược thích đọc sách, nhưng hắn không ham chức vị. Lý tưởng của hắn là say mê sách vở, sau này mở một học viện dạy học trò.

Phạm Hề tư chất đọc sách bình thường, hắn chỉ thích thư pháp và hội họa.

Dù là Phạm Lịch muốn nắm quyền, hay Phạm Dược và Phạm Hề có lý tưởng khác – ta đều ủng hộ chúng. Không có gì quan trọng hơn việc được là chính mình và tự tay thực hiện ước mơ của mình. Ta sẽ không vì gia tộc mà bắt chúng phải đi theo một con đường nhất định. Ta muốn chúng được sống cuộc sống mình yêu thích.

Với Tư Du và Tư Cẩn, Lan Chi và Phong Lan có thể dạy chúng việc quản lý gia đình, nữ hồng và nấu nướng. Còn cầm kỳ thư họa, ta sẽ tự mình dạy.

Mỗi khi lui tới với các nữ quyến nhà khác, ta đều dắt các con gái đi theo, để chúng học cách giao tiếp và ứng xử. Cũng để người khác biết đến sự tồn tại của chúng, biết dung mạo và phẩm hạnh của chúng – sau này sẽ dễ dàng hơn trong việc mai mối.

Các nàng từng sống cuộc sống đỉnh cao của thế gia ở Phạm phủ, cũng từng sống cuộc sống bình thường của gia quyến quan viên ở hậu viện tri huyện. Ta nghĩ, sau này dù gả cho ai, các nàng cũng sẽ thích nghi tốt, chẳng đến nỗi vì thay đổi hoàn cảnh sống mà sinh ra tâm lý chênh lệch.

Đó là vấn đề mà các thứ nữ thế gia thường gặp phải. Dù không được sủng ái, nhưng từ nhỏ ăn mặc ở lại cũng chẳng kém ai – dù sao cũng là chủ tử trong phủ. Các nàng được giáo dục tốt, đó là truyền thống của thế gia. Nhưng khi xuất giá về những gia đình thấp hơn, khó tránh khỏi cảm thấy bất hạnh. Tư Du và Tư Cẩn chắc sẽ không gặp vấn đề này.

— Mẹ ơi, con đàn đúng không ạ? – Tư Du hỏi ta.

— Chỗ này gảy nhẹ một chút, nhẹ nhàng lướt qua, không cần dùng sức quá – ta làm mẫu cho nàng.

Tư Du và Tư Cẩn ngồi bên cạnh ta. Hai đứa kế thừa dung mạo xinh đẹp của mẹ ruột – đều là những mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành. Ngày trước, mẹ các nàng đến hầu ta còn nhỏ hơn các nàng bây giờ. Giờ con gái đã lớn thế này, thực sự khiến người ta phải thốt lên.

Luyện tập xong, ta đứng dậy dắt các con gái cùng một dải mỹ nhân của ta, mang theo chú chim bói cá già, mang theo cần câu đi dạo. Hậu viện tri phủ rộng rãi hơn hậu viện tri huyện nhiều – ta lại có thể câu cá rồi.

— Mẹ ơi, con vẽ tặng mẹ một bức, mẹ xem có được không ạ? – Phạm Hề hấp tấp chạy đến.

Nó mười tuổi, vẫn dáng tròn tròn, thịt thịt, đáng yêu như xưa. Tính cách cũng chẳng thay đổi.

Phạm Dược trầm ổn đi theo phía sau nó, khóe môi hơi nhếch, nụ cười ôn hòa, nhìn Phạm Hề hướng ta dâng bảo vật.

Ta trao cần câu cho Tư Du bên cạnh, rồi mở bức họa ra.

Một bức Mỹ nhân đồ thực sự rất đẹp. Năng khiếu hội họa của nó được trời phú, mạnh hơn ta nhiều. Ta nghiêng đầu, sai người vào phòng lấy bức họa ta mới vẽ hôm nay:

— Vừa hay, hôm nay mẹ cũng vẽ tặng con một bức. Con bình phẩm xem nào.

Tranh được mang ra, Phạm Hề vội vàng mở ra.

Đó là bức tranh biếm họa ta vẽ nó hôm nay, nhất thời hứng chí. Đầu to thân nhỏ, mặt mũi thịt thịt – tuy có phần phóng đại, nhưng ai nhìn cũng nhận ra ngay là nó.

Phạm Dược và các anh chị cười ha hả. Phạm Hề đầu tiên há hốc mồm, rồi bĩu môi, lao vào lòng ta, ôm eo ta lắc lư:

— Mẹ ơi~~~, mẹ lại bắt nạt con!

Tư Cẩn nhăn mặt với nó:
— Tam ca sến súa quá, lớn thế rồi còn ở trong lòng mẹ làm nũng.

Phạm Hề thò đầu ra khỏi lòng ta, lè lưỡi với nàng. Nhưng cuối cùng nó vẫn vui vẻ cất bức tranh đi, định bỏ vào rương bảo bối. Giờ đây, chiếc rương ấy ngày càng lớn, đã biến thành một cái thùng to.

Phạm Dược lặng lẽ tựa vào bên cạnh ta. Nó vẫn là đứa ít nói nhất, nhưng cũng là đứa không muốn rời xa ta nhất. Đứa nhỏ này, thông minh hơn ai hết, cũng thấu hiểu hơn ai hết. Sau này e rằng nó sẽ vất vả hơn bất kỳ ai. Cũng may nó có chí hướng, một lòng đam mê học vấn, đã tìm được con đường riêng cho mình. Điều ấy quan trọng hơn bất cứ thứ gì khác.


Buổi chiều, Phạm Tằng xong việc công, từ thư phòng trở về.

Ta đang vẽ tranh biếm họa Phạm Lịch và Phạm Dược. Đang hứng chí, ta vẽ cho mỗi đứa một bức – rất thú vị.

— Đây là Lịch nhi và Dược nhi à? Sao lần nào nàng cũng bỏ quên ta thế? – Phạm Tằng từ phía sau ôm ta, giọng hơi bất mãn.

— Thiếp làm sao dám tùy tiện hủy hoại hình tượng của một vị quan triều đình chứ? – ta cười tủm tỉm đáp.

Thực ra, hắn rất “chung thủy” với ta – điều đó khiến ta khá bối rối. Hắn chẳng những không thêm thiếp thất nào, mà đến cả những nha đầu xinh đẹp bên cạnh ta, hắn cũng chẳng hề động vào. “Thất niên chi dương” hay mấy chuyện tình cảm linh tinh khác, chưa từng xảy ra với hắn.

Nói thật, bao nhiêu năm nay cứ nhìn mãi một khuôn mặt ấy, ta cũng hơi ngán rồi.

Người này, trong đám cổ nhân quả là một ngoại lệ. Người ta thường thời trẻ ngây thơ, dễ dàng chuyên tình với một người phụ nữ dịu dàng. Đợi đến khi mỹ nhân tàn phai, hoặc sau khi đã trải đời, mới nạp thêm mỹ nhân. Sao hắn lại làm ngược lại?

— Nàng ghét bỏ ta – hắn lên án.

— Ồ, bị chàng phát hiện rồi à? – ta cười đáp. Đã quen với những lời đùa nửa thật nửa giả với hắn, hắn cũng chẳng thực sự để bụng.

— Nương tử ơi~~~ – hắn bắt chước giọng Phạm Hề.

Ta rùng mình, sờ lên đám da gà, vài nét bút vẽ nên một Phạm Tằng. Thế là hắn mới hài lòng, không cố tình làm ta ghê tởm nữa.


Chẳng có mối tình nồng cháy nào ở đây cả.

Chẳng qua là cùng nhau bước qua cuộc sống, cùng nhau vun đắp gia đình này mà thôi. Những việc ta chưa kịp làm cùng vợ kiếp trước, thì ra lại có thể ở thế giới này làm cùng Phạm Tằng.

Đợi đến ngày ta trở thành lão thái thái cao cao tại thượng trong gia tộc, chắc vẫn có thể đi đến đâu cũng dắt theo một dải mỹ nhân dạo bước.

Chú thích – Thất niên chi dương: ý nói rằng bất kể việc gì, khi thời gian đã đến ngưỡng bảy năm đều khiến người ta dễ nản lòng. Hôn nhân cũng vậy.

(Hết)


Góc nhìn của mẹ chồng

Làm nữ nhân đã không dễ, làm chủ mẫu chân chính của một thế gia lại càng không dễ.

Đàn ông ba vợ bốn nàng hầu là chuyện bình thường. Ta tuy cùng trượng phu tương kính như tân, nhưng chưa bao giờ được sủng ái.

Ta luôn cố gắng tranh đấu: bảo đảm hai đứa con trai ta sinh ra được bình an lớn lên, và bảo đảm trong số các con của lão gia, chỉ có hai anh em chúng là bình an trưởng thành. Ta đã dồn hết tâm lực để bảo vệ các con ta.


Đến khi tìm hôn sự cho đứa con cả, ta để mắt đến cô nương nhà họ Lâm.

Dù nàng lúc đó mới chỉ mười ba tuổi, nhưng ta biết mình không nhìn lầm người. Trong mắt nàng có thần thái sáng láng, gương mặt mang dáng vẻ sung sướng, không màng danh lợi – đó là kiểu người sẽ sống tốt trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Nàng hiểu cách quản lý cuộc sống, hiểu cách tận hưởng cho bản thân, rất thích hợp làm chủ mẫu của một gia đình như chúng ta. Dù sau này không được chồng sủng ái, nàng cũng sẽ không oán hận, vẫn có thể lo liệu tốt việc nhà, dạy dỗ tốt con cái, quán xuyến hậu viện cho chồng, để hắn không phải bận tâm việc trong nhà.

Chỉ gặp mặt một lần, ta đã chọn ngay nàng.

Về đến phủ, ta nói với lão gia. Lão gia lại bảo cô nương ấy còn quá nhỏ, hơn nữa xem ra Lâm gia đang muốn đưa nàng vào cung. Ta đành phải từ bỏ, đi tìm mục tiêu khác – và chọn Nghiêm thị, lúc ấy đang có danh tiếng vang dội.


Rồi đến khi làm mai cho thằng Tằng, Lâm gia và Phạm gia ta vì nguyên nhân triều đình mà phải liên kết với nhau. Ta thừa cơ nhắc lại chuyện hôn sự. Lần này, Lâm gia đáp ứng.

Thằng Tằng của ta – so với anh nó, nó có phúc khí hơn.

Sau này, sự thật đã chứng minh ta không hề nhìn lầm người.

Đứa con dâu thứ hai này, bất kể đi đến đâu, cũng đều khiến người bên cạnh cảm thấy vui lây. Nó đối đãi với ta cũng thực sự hiếu thuận. Nhìn nó sống với tinh thần phơi phới như vậy, chính ta cũng thấy mình trẻ ra vài tuổi.

Nó mang thai, liền để những thị nữ xinh đẹp bên cạnh đi hầu hạ thằng Tằng – chẳng hề miễn cưỡng chút nào.

Nó mới sinh con xong, thằng Tằng đã muốn nạp Tuyết Nhu, nó cũng một lời đồng ý ngay. Vẻ mặt nó sung sướng như một đứa trẻ, chứ không phải vội vàng tranh giành hay đầy bụng ấm ức.

Thằng Tằng có lúc hồ đồ, nó cũng chẳng cãi vã om sòm. Ngược lại, nó nhẹ nhàng dẫn dắt, khuyên giải an ủi, giúp con ta không vì một ả phong trần mà ngã nhào.

Tuyết Nhu làm ra những chuyện bẩn thỉu như vậy – theo ý ta thì nên đánh chết cho xong. Nhưng lão gia lại giữ lại mạng cho nó.

Vừa biết chuyện, con dâu ta lập tức tìm được lý do để đuổi Tuyết Nhu đi, mà còn làm cho người ta không thể bắt bẻ được điều gì.

Con ta ở bên cạnh nó, chậm rãi trưởng thành, biết gánh vác trách nhiệm – điều ấy thực sự làm ta vui mừng.

Giá như Nghiêm thị có được một nửa của nó thì tốt biết mấy…

Nghiêm thị cho rằng ta bất công. Kỳ thực, ta đúng là có bất công thật.

Nhưng không phải vì ta cưng chiều con út, mà bởi ta thực sự yêu thích đứa con dâu này – ta coi nó như con gái của mình.

Bởi nó thông minh, hiểu biết rộng, lại chẳng hề giả tạo. Trong những hoàn cảnh gian nan phức tạp, nó vẫn sống vui vẻ, luôn tràn đầy sức sống. Nó khiến con ta và cháu ta, những người ở bên cạnh nó, cũng cảm thấy vui lây. Nó làm cho gia đình này càng giống một mái ấm.

Làm mẹ, ai chẳng mong con mình được sống hạnh phúc?

Ta sao có thể không thích nó cho được?

(Hết)

Lan Chỉ phiên ngoại

Ngày… tháng… năm…

Hai thị nữ hầu hạ bên cạnh tiểu thư đi lấy chồng. Ta và Phương nhi được đề bạt lên hầu tiểu thư, đổi tên thành Lan Phương và Lan Chỉ, trở thành nhất đẳng đại thị nữ.

Ta thực sự rất mừng.

Tiểu thư tốt lắm, đối đãi với hạ nhân rất khoan dung, ngày lễ ngày tết ban thưởng rất hậu hĩnh. Quan trọng hơn cả là ở bên tiểu thư, ta có thể học được bao nhiêu điều hay – sau này tiền đồ chắc chắn sẽ tốt hơn.

Ngày… tháng… năm…

Tiểu thư được định hôn sự rồi. Nàng hỏi chúng tôi: ai muốn lấy chồng, ai muốn đi theo nàng?

Chúng tôi nhìn nhau, rồi đều nói: nguyện đi theo tiểu thư.

Tiểu thư là chủ tử tốt nhất trên đời. Đi theo nàng, chẳng lo khổ cực gì.

Ngày… tháng… năm…

Tiểu thư và cô gia rất ân ái. Ta cũng thực sự mừng cho nàng.

Nhưng hôm nay ở hoa viên, chúng tôi gặp biểu tiểu thư của Phạm gia. Nàng mặt lạnh tanh, coi như không thấy tiểu thư, rồi lướt qua bỏ đi.

Thực sự vô lễ quá!

Tiểu thư chẳng hề để bụng. Nàng cầm sách đọc mê mải, thỉnh thoảng ta đưa điểm tâm đến tận miệng, nàng mới nhớ ra mà ăn một miếng. Tiểu thư tuy đã lập gia đình, nhưng đôi khi vẫn như một đứa trẻ.

Ngày… tháng… năm…

Theo tiểu thư từ phòng thái thái thỉnh an ra, Đại nãi nãi nhìn chúng tôi, rồi không có hảo ý mà khuyên tiểu thư đủ điều: nào là “phải cẩn thận hồ ly tinh”, nào là “đàn ông khó tránh ăn trong bát nhìn trong nồi”, nào là “mấy mỹ nhân hầu bên cạnh đệ muội đã trội hơn chúng ta, sau này càng xinh đẹp ắt khó tránh bị người để mắt”.

Lòng ta bỗng nhiên bất an. Nếu tiểu thư bị Đại nãi nãi xúi giục mà đuổi chúng tôi đi thì sao?

Tiểu thư như chẳng nghe thấy gì. Tới ngã rẽ, nàng mỉm cười cáo lui với Đại nãi nãi, rồi dắt chúng tôi đi.

Về đến viện, nàng làm như chưa có chuyện gì xảy ra, chẳng hề nhắc đến, việc gì ra việc ấy. Nhìn tiểu thư vẫn ăn uống thoải mái như thường, ta mới yên tâm. Chắc không sao đâu.

Ngày… tháng… năm…

Tiểu thư có thai – đây là niềm vui lớn.

Ta hy vọng nàng sinh con trai. Như thế, địa vị của tiểu thư trong phủ sẽ được củng cố vững chắc.

Tiểu thư bảo Lan Chi và Phong Lan đi hầu hạ cô gia. Hai người họ trông cũng có vẻ sẵn lòng.

May mà tuổi ta chưa đủ lớn. Nếu tiểu thư bảo ta đi, không biết ta có bằng lòng không… Chính ta cũng chẳng rõ.

Ngày… tháng… năm…

Bụng tiểu thư đã rất to, nhưng nàng vẫn rất khỏe. Ngày nào cũng ra ngoài dắt chim đi dạo, ăn càng nhiều, mặt càng rạng rỡ – chẳng giống mấy bà bầu khác, lúc nào cũng ốm yếu phù nề. Thực sự kỳ lạ.

Nhưng cô gia thì làm ta tức quá. Hắn quên béng tiểu thư, ngày nào cũng đi bên cạnh cái cô biểu tiểu thư ốm yếu kia.

Ốm yếu cái gì chứ? Ta thấy là giả ốm thì có. Thầy thuốc còn chẳng chuẩn đoán ra bệnh, chỉ kê mấy thang thuốc bổ. Ho khan một hai tiếng thì có gì ghê gớm?

Tiểu thư chẳng hề để bụng. Tối ngủ ngon, ngày ăn khỏe. Ngoài viết chữ vẽ tranh, thỉnh thoảng còn sang chơi bài với thái thái, cố ý thua mấy đồng tiền. Ngày nào cũng sống rất thong dong. Chúng tôi cũng làm theo, chẳng ai nhắc đến chuyện cô gia nữa.

Ngày… tháng… năm…

Tiểu thư sinh con chưa đầy một tháng, cô gia đã nạp biểu tiểu thư làm thiếp.

Cái gọi là “tiểu thư lá ngọc cành vàng” chứ? Thực sự chẳng ra gì – không biết giữ thể diện, lại cam lòng đi làm thiếp người ta.

Trong phủ đồn rằng lão gia vốn không đồng ý, ngài muốn gả nàng một mối tử tế bên ngoài. Nhưng nàng đã đến quỳ cầu xin, nói chỉ cần được gả cho biểu ca, tình nguyện làm thiếp… Chưa bao giờ thấy loại đàn bà tự hạ mình đến thế.

Nói thật, nếu là ta, thấy cô gia bạc bẽo với tiểu thư, còn lạnh nhạt với Phong Lan và Lan Chi – ta nhất quyết chẳng muốn làm thiếp cho hắn. Lấy chồng tử tế, tự mình sống tốt hơn, chẳng phải hơn làm thiếp gấp trăm lần sao?

Ngày… tháng… năm…

Ta cứ tưởng cô gia thực lòng yêu thương Tôn di nương nên mới lạnh nhạt với tiểu thư. Vậy mà khi tiểu thư mang thai lần thứ hai, hắn lại mê mẩn một con kỹ nữ bên ngoài.

Lúc nghe lời đồn, ta không dám tin. Bàn bạc với Phong Lan xong, chúng ta mới kể cho tiểu thư. Dù sao tiểu thư cũng phải có chủ ý.

Tiểu thư biết tin, chỉ hơi nhướng mày, khẽ cười – như thể thấy rất thú vị. Nàng lập tức dặn chúng ta: coi như không biết chuyện này, coi như chưa từng kể cho nàng, không được xen vào, cứ giả vờ hồ đồ.

Ta tuy mơ hồ không hiểu, nhưng thấy tiểu thư chắc chắn như thế, cũng yên tâm. Chỉ cần nghe lời nàng là được.

Ngày… tháng… năm…

Hôm nay Đại nãi nãi lại sang viện nói mấy lời kỳ quặc. Bề ngoài thì khen tiểu thư “hiền lành”, “rộng lượng”, nhưng ẩn ý lại mắng tiểu thư chỉ biết giả vờ trước mặt cha mẹ chồng và chồng. Nàng còn bảo: tiểu thư sinh con trai thì đã sao? giúp chồng nạp thiếp thì đã sao? cuối cùng vẫn không giữ được lòng chồng.

Ta nghe mà tức run người.

Tiểu thư dưỡng khí thực tốt. Nàng như chẳng nghe thấy, chẳng hề tiếp lời Đại nãi nãi. Chỉ kể chuyện điểm tâm, nữ hồng linh tinh. Hai người nói hai chuyện khác nhau, chẳng khác gà nói với vịt – ta thấy khá buồn cười.

Cuối cùng Đại nãi nãi tức giận bỏ đi. Khóe môi tiểu thư khẽ nhếch, như thể thấy rất thú vị.

Ta thấy Đại nãi nãi hoàn toàn không phải đối thủ của tiểu thư.

Ngày… tháng… năm…

Cô gia từ hôm ấy không còn sáng sớm ra ngoài tìm kỹ nữ nữa.

Đây gọi là “con hư biết quay đầu là quý hơn vàng” sao? Ta khinh.

Nếu có thể nói, ta thấy hắn chẳng xứng với tiểu thư chút nào. Ghét nhất mấy cậu ấm như hắn – mới gặp lần đầu đã trêu hoa ghẹo nguyệt, hết cảm giác mới mẻ lại quên sạch. Tam ca của tiểu thư cũng từng như thế – lúc đó hắn dám để mắt đến Phong Lan, và đã bị tiểu thư dạy dỗ một bài học.

Tiểu thư đối với cô gia vẫn như xưa, chẳng thay đổi gì từ ngày cưới đến giờ. Vì thế ta cũng không dám bất kính với hắn – ít nhất bề ngoài là thế.

Tiểu thư dồn hết tâm trí cho hai vị tiểu thiếu gia, chắc chẳng có thời gian mà dạy dỗ cô gia.

Ngày… tháng… năm…

Cô gia phải xuất môn làm việc. Tôn di nương nhất quyết đòi đi theo.

Sao lúc này nàng không khóc lóc kể lể rằng thân thể không khỏe? Ngày nào cũng ăn cái này bổ cái kia, số tiền nàng tiêu tốn có khi đủ để tạo ra một nàng ta mới. Nghe nói nhà nàng ngày xưa suy tàn, của cải nhà cửa đều bị tộc nhân họ Tôn chiếm hết, chẳng để lại gì. Phạm gia đối đãi với nàng thực sự rất nhân nghĩa.

Buồn cười là nàng từng chất vấn tiểu thư: sao tiền tiêu vặt hàng tháng của nàng lại ít đi? bảo tiểu thư keo kiệt, bủn xỉn với nàng.

Nói vậy chẳng vô lý sao? Trước kia nàng là tiểu thư, là chủ tử; giờ nàng làm thiếp, là kẻ hầu. Tiền tiêu vặt hàng tháng sao có thể giống nhau được? Thực sự chẳng hiểu quy củ gì cả.

Ngày… tháng… năm…

Tôn di nương sẩy thai, còn khiến cô gia hỏng việc tốt. Về đến nhà, nàng mất sủng.

Ngày nào nàng cũng khóc. Khóc trước cửa thư phòng Nhị gia, khóc ở hoa viên – nơi nào cũng thấy nàng khóc. Sau lại tìm tiểu thư khóc, chẳng nói câu nào, chỉ khóc.

Ta thực sự bội phục tiểu thư. Nàng có thể mặt không biến sắc, đọc sách, viết chữ, đánh đàn, vẽ tranh, ăn uống, coi tiếng khóc của Tôn di nương như không tồn tại. Chẳng hỏi, chẳng khuyên.

Cô gia đến đây, thấy cảnh ấy thì lắp bắp kinh hãi.

Chẳng lẽ Tôn di nương muốn hãm hại tiểu thư? Ta hoảng hốt.

Tiểu thư chỉ mỉm cười, chẳng giải thích gì. Cô gia liền mắng Tôn di nương, đuổi về phòng.

Khóc một trận như thế, Tôn di nương từ đó về sau tránh mặt tiểu thư.

Thực sự rất buồn cười.

(Hết)