Chương 1
1
Thái thái vốn tính nóng vội, sợ ta làm ầm ĩ hỏng việc hôn nhân của nhị công tử. Đại công tử chưa về đến nhà, bà đã vội vàng ghi Lý Cảnh vào sổ dưới tên đại công tử. Bà thậm chí chẳng buồn hỏi kỹ lai lịch tuổi tác của ta, liền cho ta nhập hộ tịch, thành vợ chính danh của đại công tử.
Chỉ có vú Trương ít nói bên cạnh là hơi đa nghi.
Vú Trương dò xét ta mấy lần, nghi ngờ hỏi:
“Năm nay cô thực sự hai mươi bốn tuổi?”
Ta cầm hộ tịch của chị gái – lúc chị mất vừa tròn hai mươi bốn, còn ta mới tròn mười bảy. Ta e lệ cười, đáp:
“Thưa vú, tôi tuổi Dần. Trông non như vậy nhờ biết chút phép dưỡng nhan. Nếu vú không chê, tôi xin dâng một bài thuốc.”
Vú Trương chẳng vì lời bắt chuyện của ta mà mềm lòng, chỉ lạnh nhạt nói:
“Trông cô cũng biết an phận. Giờ cô là thiếu phu nhân hầu phủ rồi, không cần khách khí với kẻ hạ nhân như tôi.”
Bà lĩnh ít đồ dùng hằng ngày, dẫn ta và đứa cháu đến một khu viện hẻo lánh.
Đẩy cửa ra, chúng ta đều sững sờ.
Sân đầy cỏ dại, bụi bặm, mạng nhện giăng mắc, rõ ràng là bỏ lâu chẳng ai lui tới. Lúc vào phủ, ta đã từng hỏi thăm tình hình. Nghe nói đại công tử không được thái thái yêu thương, ta tưởng chỉ là mẹ con bất hòa. Không ngờ hắn xuất chinh nhiều năm, người nhà lại lơ là khu viện từng ở đến thế.
Bà Trương cũng có vẻ không ngờ tới cảnh này. Bà toan quát mắng kẻ trông coi, nhưng ngoảnh lên thấy ta, lại kìm lại. Rốt cuộc dù việc nhà của hầu phủ có chẳng ra gì, cũng không để người ngoài như ta xem trò cười.
Ta mỉm cười nói:
“Khu viện này thanh vắng, đại công tử là người luyện võ, ở đây là thích hợp nhất. Cỏ cây tươi tốt thế này, hẳn phong thủy nơi đây tốt. Tôi rất ưng.”
Lông mày đang nhíu chặt của bà Trương dần giãn ra, lúc này mới chịu nhìn thẳng vào ta. Bà với ánh mắt phức tạp nói:
“Cô là người có phúc. Hãy yên tâm ở đây, đừng để ý đến những lời thị phi bên ngoài.”
Câu ấy, là đang nhắc nhở ta.
Đại công tử không được sủng ái, kéo theo ta – người vợ từ quê lên – cũng sẽ bị lạnh nhạt. Nếu ta nhảy nhót tranh giành, biện bạch, thì lại càng mất giá, càng bị khinh thường.
Ta cười, từ tay áo lấy ra một túi thơm đưa cho bà, dịu dàng nói:
“Thấy mắt bà vương tơ máo, da hơi vàng, hẳn là thường xuyên khó ngủ. Bên trong có chút thuốc an thần, tự ta pha chế. Bà để cạnh gối lúc ngủ, sẽ dễ vào giấc hơn.”
Bà Trương không nhận, nhưng một cô bé bên cạnh đã cầm lấy. Thần sắc căng thẳng của bà có phần chùng xuống. Trước khi đi, bà lại nhẹ nhàng bảo ta:
“Tôi thường xuyên thức trực cho thái thái, không thể để đồ không rõ nguồn gốc bên cạnh. Cần đem cho đại phu xem qua, cô đừng đa tâm.”
Cô bé đang cúi nhìn túi thơm bỗng phì cười:
“Ma ma, ngày thường ma ma khan hiếm lời như vàng, sao hôm nay nói nhiều thế với thiếu phu nhân?”
Bà Trương gõ đầu cô bé, quát nhẹ:
“Tân Vũ, chớ vô lễ!”
Ta nghĩ một lát, lấy từ bọc ra chiếc khăn mới tinh tặng cô bé. Cô bé lật qua lật lại ngắm bức thêu, xem ra rất thích. Điều này khiến cô bé hơi đỏ mặt, lẩm bẩm:
“Cháu chỉ thấy hoa văn này lạ mắt, chứ chẳng phải chưa thấy gì đâu.”
Rồi cô bé cầm lấy, lè lưỡi cười:
“Đa tạ thiếu phu nhân.”
Tân Vũ trả ơn cũng rất nhanh. Chẳng mấy chốc, cô đã dắt theo nhiều tôi tớ đến giúp quét dọn sân vườn, sửa sang nhà cửa. Nhờ vậy ta đỡ tốn công sức.
Đến lúc rảnh rang, ta ngồi nghỉ dưới gốc cây ngọc lan. Đứa cháu mang đến một ấm trà, một đĩa bánh điểm tâm, phe phẩy quạt cho ta, mặt mày già dặn, nói:
“Làm đến giờ chẳng uống một ngụm nước. Lý Tri Xuân, dì có hối hận khi dắt con đến đây nhận thân không? Con đã bảo rồi, con thà học thuốc với dì, sau này vân du, chứ không muốn dì chịu khổ thế này! Nhìn dì kìa, chỉ để lấy lòng người ta, cười đến nỗi sắp nát mặt!”
Nó còn bé mà ăn nói chững chạc lạ thường, trong mắt đầy lo âu. Khuôn mặt ấy, rất giống chị gái ta. Nhất là cái vẻ răn dạy ta, càng giống.
Ta véo má nó, dịu dàng nói:
“Lý Cảnh, may mà lúc con sinh ra đã giống mẹ con. Bằng không, ta đã đầu độc con từ lâu rồi.”
Mặt nó càng xị xuống, lẩm bẩm:
“Dì có ít lần hạ độc con đâu!”
Ta đá vào mông nó một cái:
“Đó là thuốc bổ! Đi, nấu cơm đi. Ta muốn ăn thịt kho chua ngọt!”
Nó càng tức hơn, vừa đi vừa chửi:
“Đây là cái tương lai tốt đẹp gì mà dì bảo con? Nói sang đây sẽ sung sướng không phải động tay, té ra vẫn con nấu cơm! Con nói thật, thà mình về làng Đầu Hổ còn hơn.”
Nó đến cửa bếp, lại thò đầu ra hỏi:
“Thêm món măng xào chua chứ ạ?”
Ta lười biếng phẩy tay, ra ý mặc nó.
Một làn gió nhẹ thổi qua, một bông ngọc lan trắng tàn rơi trên tóc ta.
Có một câu ta chẳng hề lừa bà Trương. Ta thực sự rất thích khu viện này, vì nơi đây trồng cây ngọc lan – thứ chị gái ta yêu thích nhất.
Ta nâng niu bông hoa, lòng dịu dàng.
Chị ơi, em nhất định không phụ lời chị, sẽ nuôi Lý Cảnh lớn khôn bình an.
—
2
Ta cùng Lý Cảnh ở khu viện hẻo lánh, chẳng ai quấy rầy, thực sự thanh tịnh.
Ban đầu Lý Cảnh còn miễn cưỡng, thế rồi đi học ở trường tộc một hôm, về nhà mắt sáng rực. Xem ra bậc đại nho đương triều giảng dạy, quả không phải thầy đồ làng quê sánh được.
Thái thái chắc hễ thấy ta là đau đầu, nên miễn cho ta việc thỉnh an, bảo ta an phận ở yên. Ta cũng vui lòng nhàn tản. Suốt ngày trong vườn trồng hoa, phơi thuốc.
Trước kia khu viện này hoang phế, nhổ sạch cỏ dại cùng hoa dại, chỉ còn một cây ngọc lan. Trông vắng vẻ, cô quạnh, chẳng có chút sức sống.
Ba căn phòng càng khỏi phải nói. Phòng chính chỉ có một cái giường, trải manh chiếu lạnh lẽo. Chăn nệm thì có một bộ, bỏ lâu năm đã lên mốc. Thư phòng trống rỗng, chẳng nói đến giá đồ, ngay một cái bàn tử tế cũng không. Một gian bên cạnh để thùng tắm, chắc là nơi tắm rửa.
Thành thực mà nói, xem ba căn phòng ấy, ta khó tưởng tượng nổi đại công tử ngày xưa đã sống thế nào.
Thái thái coi ta như không tồn tại. Bọn tôi tớ trong toàn hầu phủ thấy ta cũng tránh đi. Sai bảo họ làm việc là điều không thể, đành tự ta chầm chậm sắm sửa đồ đạc. May mà tiền bạc hằng tháng hầu phủ cấp cũng khá hào phóng, để ta có tiền dư mua thứ mình thích.
Ta mua hai tấm vải, may cho phòng chính một bộ màn trướng hoa bướm bay. Lý Cảnh giúp ta treo lên, vừa treo vừa la:
“Màn này thô quá đi!”
Ta nhìn bộ màn rực rỡ, đầy xuân sắc ấy, vô cùng hài lòng. Thô chỗ nào? Rõ ràng nhộn nhịp vui vẻ, nằm ngủ cũng thấy thơm.
Lý Cảnh treo xong bỗng cảnh giác nhìn ta:
“Phòng con treo gì thế?”
Ta mỉm cười với nó. Nó lao ra ngoài nhìn, rồi lặng đi trong tuyệt vọng.
Mỗi ngày ta ra ngoài dạo, dần dần lấp đầy ba căn phòng. Kê thêm một cái sập nhỏ cạnh giường phòng chính. Mở cửa sổ ra là có thể ngắm những đóa hoa đủ màu ta trồng, gió thổi qua, thơm ngát. Trên sập nhỏ để một chiếc bàn con, bày điểm tâm mứt hoa quả. Ngủ trưa dậy ăn chút cho ấm bụng, rồi thêm một chén trà thanh khiết, là khoái ý nhất.
Nói đi cũng nhờ phúc bà Trương. Bà tìm trong kho ra một tấm thảm, nghe bảo mua từ Tây Vực về. Thái thái chê nó hoa mỹ quá, bỏ không dùng, lại rẻ cho ta. Trải trong phòng, bước lên vừa mềm vừa êm.
Chăn nệm mới phơi qua nắng, rất ấm áp, mềm mại. Ta lại bỏ thuốc an thần vào quả cầu hương, xông khắp phòng một lượt. Ban đêm khi ngủ, ôm chiếc gối mềm, cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
Lý Cảnh giúp ta đặt chân đèn mới mua vào vị trí, hứng thú chẳng cao, nói:
“Dì đúng là chẳng phụ lòng mình, thực sự coi nơi này thành nhà rồi. Hôm nay ở trường học con nghe nói đại công tử sắp về, dì tính xem nên làm thế nào đi.”
Ta vừa lau tóc, vừa lơ đãng đáp:
“Đại công tử gì? Đó là cha con. Nó về đúng lúc, đỡ để ta một mình trong phòng, thêm cô quạnh.”
Lý Cảnh nghe xong càng tức, gào lên:
“Con không muốn dì hy sinh vì con, vì mẹ con! Đợi con lớn, chính con sẽ báo thù cho mẹ!”
Nói rồi, mắt nó đỏ hoe. Nó bước lại, ôm ta, giọng run run:
“Dì ơi, con chưa bao giờ quên mẹ đã hóa điên thế nào. Con là con của súc vật, con mang dòng máo ô uế. Sẽ có một ngày con đủ mạnh mẽ để bắt kẻ đó phải trả giá!”
Ta mặc nó lặng lẽ khóc một lát, rồi lấy khăn tay lau mặt cho nó.
Bên ngoài bỗng vọng ra tiếng mưa lộp bộp. Ta vụt vui lên, sai bảo Lý Cảnh:
“Nhanh, đem cái lò đất nung ta mua hôm trước ra, chúng ta ra hành lang uống trà, ngắm mưa, thưởng hoa.”
Lý Cảnh tức tối:
“Sáng ra con đã bảo trời sắp mưa, bảo dì đưa mấy cái hoa ấy vào dưới mái hiên. Vậy mà lúc tan học về, chúng vẫn ngoài vườn! May mà con chăm chỉ, không thì còn hoa gì mà ngắm? Chẳng qua nhìn cành trơ trụi mà khóc thôi!”
Ta xoa đầu nó, trêu:
“Con bé mà lo nhiều thế. Hoa có rụng, thì tối nay chúng ta uống trà đánh cờ. Sáng mai tạnh, trồng lại là được.”
Lý Cảnh thấy ta không tiếp mạch, hơi nản, ỉu xìu:
“Lý Tri Xuân, sao dì lúc nào cũng có cái tình thản nhiên ấy? Mình đến đây để báo thù mà!”
Ta kéo má nó, nói:
“Phải, mình đến để báo thù. Thế thì bây giờ con hãy xông vào vườn người đó, đơm chít hắn đi. Rồi con mang tội dít cha, vào ngục, hủy cả đời. Ta cũng vào tù, khổ sở đủ đường, rồi chít thê thảm.”
Lý Cảnh nhìn ta, cơn nóng nảy trong mắt dần lắng. Chắc nó đã nghe lọt tai lời ta. Việc báo thù, không thể vội.
Hầu phủ canh phòng nghiêm ngặt. Các cửa phía ngoài có thị vệ gác, trong nội viện có những tôi tớ khỏe mạnh rình rập. Nếu ta không mạo danh chị đến nhận thân, căn bản chẳng thể vào được. Hôm nay ta dùng một gói thuốc dò đường, mới biết hầu phủ quy củ rất lớn. Một bà lão thôi còn khó qua mặt, huống hồ ra tay với nhị công tử, chẳng khác lên trời sao?
Kế bây giờ chỉ có cách yên tâm ở lại hầu phủ, từ từ tính toán.
May mà ta, thứ không thiếu nhất chính là sự kiên nhẫn.
Lý Cảnh đỏ mặt xin lỗi:
“Tại con nông nổi.”
Ta an ủi:
“Có những việc, không thể vội. Con tin ta, nếu ta ra tay, nhất định sẽ bàn bạc với con trước. Việc quan trọng nhất bây giờ là con học thật tốt. Nếu con đủ xuất sắc đến mức hầu phủ không thể lờ đi, thì khi việc ta mạo danh chị bị phát giác, con mới có thể chống đỡ cho ta.”
Lý Cảnh nhớ lại cảnh vừa ôm ta khóc, hơi ngượng, trầm giọng nói:
“Con hiểu. Dì đã dạy con, đừng vì lỗi lầm của người khác mà hủy hoại cuộc đời mình. Con luôn ghi nhớ. Con đi lấy lò nấu trà cho dì.”
Ta ngáp, chun vào chăn:
“Mưa sắp tạnh rồi, còn uống trà gì nữa. Con xem, cái đẹp của cuộc sống là thoáng qua như thế. Con đã làm lỡ mất cơ hội ngắm mưa của ta, tối nay nhất định phải áy náy mà không ngủ được.”
Lý Cảnh tức mình:
“Dì mơ đẹp quá! Con nhất định sẽ ngủ ngon!”
Nó phồng má định đi, đến cửa bỗng nhớ ra điều gì, lại quay lại thắp cho ta một ngọn nến mới, dặn dò:
“Đèn tắt thì dì đừng dậy, gọi con, con nghe thấy.”
Thấy ta chẳng buồn đáp, nó đến vỗ ta. Ta buồn ngủ muốn chít, ậm ừ cho qua.
—
Đang ngủ, ta bỗng mở mắt. Ngọn nến đã tắt. Ta mò trong gối lấy bật lửa, châm một ngọn nến nhỏ. Ánh sáng lập tức bùng lên. Ta trông thấy một bóng người cao lớn đứng cạnh chân đèn, chính là hắn đã thổi tắt.
Hắn thấy ánh sáng, quay sang nhìn ta, thản nhiên nói:
“Đêm khuya không tắt đèn mà ngủ, dễ gây hỏa hoạn lắm.”
Ta ngồi dậy, mỉm cười dịu dàng với hắn:
“Chàng nói phải.”
—
