Phần 3
Chương 9
Phạm Tằng đi được hơn một tháng, sai người gửi thư về.
Hóa ra họ phải dừng lại giữa đường. Tôn di nương thân thể không tốt, đi một đoạn lại nghỉ một đoạn. Chẳng thế thì một tháng đã tới nơi rồi.
Lúc trước ta đã biết, Tôn di nương mà đi theo thì tám phần sẽ gây cản trở. Nhưng lời ấy ta không tiện nói ra. Hơn nữa đây có phải đại sự gì của triều đình đâu – chỉ là việc nhà, chậm trễ chút cũng chẳng sao, nên ta chưa từng thực sự ngăn cản. Tôn di nương vừa khóc vừa năn nỉ, Phạm Tằng mềm lòng, liền dắt nàng đi theo.
Ta chỉ không hiểu: rốt cuộc nàng vì sao nhất quyết phải đi? Có lẽ không chịu nổi cảnh xa Phạm Tằng lâu ngày? Hay muốn ra ngoài du ngoạn cho khuây khỏa? Nếu là lý do thứ hai, thì ta cũng muốn đi. Nhưng ta là chính thất, trong bụng lại đang mang thai, không được tự do như nàng.
Trong thư kể rằng, vừa hay phát hiện Tôn di nương có thai. Xác nhận là trước khi lên đường đã có, nhưng nàng không biết. Vì suốt một tháng trời xe ngựa xóc nảy, mệt nhọc, thai nhi không được yên ổn, nên họ đã phải tạm dừng lại.
Ta nghĩ một lát, rồi bảo Lan Phương:
— Lan Phương, ngươi đi thông báo với nhũ mẫu và nha đầu của Tôn di nương, bảo họ chuẩn bị hành lý. Nói Tôn di nương có thai, ta sẽ sai người sắp xếp xe ngựa, sáng mai đưa họ đến đó hầu hạ.
— Dạ ạ.
Rồi ta sang gặp thái thái, đưa thư cho bà xem:
— Con dâu đã bảo những người hầu của Tôn di nương chuẩn bị rồi, sáng mai họ sẽ lên đường, cũng mang theo thuốc bổ và dược liệu. Thái thái có dặn dò gì thêm không?
Thái thái thở dài:
— Con làm tốt lắm, ta chẳng có gì để dặn. Chỉ có điều lão gia chắc sẽ nổi giận. Một việc nhỏ trong nhà thế này, thằng Tằng vì một thiếp thất mà kéo dài, sợ là làm lão gia thất vọng rồi. Ta đã bảo không nên cho nó đi theo, chẳng giúp được gì lại còn bắt người khác phải chăm sóc, vô duyên vô cớ bị nó kéo chân sau.
Ta cười:
— Thế nên Nhị gia mới lén gửi thư về cho con, muốn con nhờ thái thái bày mưu tính kế đây.
— Hai cái thằng khỉ nhà ngươi – thái thái bật cười – Được rồi. Lão gia chỗ đó ta sẽ khuyên giải. Nhưng bên ấy cũng không thể cứ vì nàng mà trì hoãn mãi. Tôn di nương có thai, tất nhiên không thể tiếp tục xóc nảy mệt nhọc, bảo nàng cứ ở lại đó tĩnh dưỡng, đợi thai ổn định rồi hãy về. Còn thằng Tằng, bảo nó một mình đi nhanh cho xong việc, rồi mau mau về báo cáo kết quả.
Ta gật đầu vâng lời.
Buổi tối, ta viết thư hồi âm, chỉ nhắc lại những lời thái thái đã nói, không thêm một chữ ý kiến riêng nào. Kèm theo một tấm ngân phiếu, bảo dùng để mua thuốc thang và bổ dược cho Tôn di nương. Hôm sau liền sai người lên đường.
Chẳng bao lâu, thư thứ hai lại về.
Tôn di nương đã không còn đứa nhỏ nữa. Mà Phạm Tằng vẫn còn kẹt lại ở chỗ cũ.
Hóa ra, sau khi nhận được thư, Phạm Tằng cũng hiểu ra rằng không thể cứ trì hoãn mãi. Lại thấy những người hầu được gửi đến đều là người cũ của Tôn di nương, rất ổn thỏa, hắn cũng yên tâm. Hắn định ở lại thêm vài ngày với nàng, rồi để nàng ở đó dưỡng thai, chờ hắn làm xong việc sẽ quay lại đón – nhiều nhất cũng chỉ mất một hai tháng.
Thế nhưng Tôn di nương không chịu.
Nàng khóc lóc om sòm, rồi đứa nhỏ trong bụng mất. Thầy thuốc nói nguyên nhân là do tâm tình thai phụ quá kích động.
Lúc ấy, Tôn di nương như trời sập. Vốn thân thể nàng đã không tốt, bao năm nay khổ sở lắm mới có được một thai, vậy mà mất. Phạm Tằng cũng tức giận và phiền muộn, nhưng lại kẹt ở đó không thể đi đâu.
Người nhà mang thư về, cũng gửi kèm một bức thư của Phong Lan.
Trong thư Phong Lan kể: lúc Tôn di nương khóc lóc, từng chất vấn Phạm Tằng –
“Anh có bao nhiêu người đàn bà bên cạnh, em một mình đêm đêm khổ sở chờ anh. Tình xưa nghĩa cũ anh đã quên hết rồi, trong mắt anh bây giờ chỉ có mình nàng ấy. Lần này, em vốn chẳng nên đi theo. Nhưng chính vì nàng ấy không đi, chỉ có hai chúng ta, nên em mới cố kéo cái thân tàn tạ này, dù phải ngược xuôi màn trời chiếu đất cũng muốn đi cùng anh. Thế mà nàng ấy chỉ mới gửi đến một phong thư, anh đã tính bỏ em lại…”
Phạm Tằng nghe xong, đáp lại:
“Nam Nhi làm sao mà em nhìn nàng không vừa mắt? Lúc trước ta còn chưa kịp mở lời, nàng đã đồng ý cho em vào cửa. Mấy năm nay, nàng chưa từng bắt em phải lập quy củ, cũng chẳng keo kiệt với em, cẩm y ngọc thực đều đủ cả, có thứ tốt cũng đều nghĩ đến em. Lúc ta hồ đồ, nàng một mình ôm bụng bầu cũng chưa từng kêu một câu ấm ức, chỉ bảo ta cố gắng chăm sóc thân thể em. Lần này em không nên đi theo, nàng còn lo cho thân thể em, trước khi ta đi còn dặn phải săn sóc em chu đáo. Việc công bị trì hoãn, nàng cũng chẳng trách em một lời, lại sai người đến hầu hạ em, còn nhờ thái thái đi cầu khẩn lão gia tha thứ cho ta. Ta kính nàng, yêu nàng, có gì sai? Ta vẫn nghĩ em tuy không nói ra miệng, nhưng được nàng chăm sóc bấy nhiêu năm, trong lòng ắt cũng kính trọng nàng. Hóa ra em lại dung không được nàng đến thế.”
“Em chính là không dung được nàng ấy!!! Ngày trước anh bảo sẽ cưới em, thế rồi cha em mất, em chẳng còn là tiểu thư cành vàng lá ngọc gì nữa, chỉ là một cây cỏ dại nương nhờ Phạm gia. Lúc đó dù không thể gả cho anh làm chính thê, em vẫn nghĩ chỉ cần tình cảm hai đứa không đổi, thì hơn cả thảy. Sẽ chẳng có ai chen vào được giữa chúng ta. Thế mà anh đã thay đổi, đã thay đổi từ lâu rồi. Từ khi có mấy đứa thông phòng, rồi anh cưới nàng ấy, rồi nạp em, rồi anh còn ham hố một ả đàn bà thanh lâu phóng đãng, rồi nha đầu của hồi môn của nàng ấy cũng thành thiếp của anh, sinh con cho anh. Em đây tính là gì? Em tính là gì? Tình xưa nghĩa cũ của chúng ta biến đi đâu mất rồi?”
Nói đến đấy, nàng quá kích động, đứa nhỏ trong bụng liền mất.
Ta đọc thư của Phong Lan, như đang tận mắt chứng kiến cảnh ấy, vừa buồn cười vừa chua xót.
Trong tình yêu, kỳ vọng đối phương toàn tâm toàn ý là chuyện chính đáng. Ở thời đại nào cũng vậy. Chỉ có điều, ở nơi này, một người đàn bà dám mở miệng tuyên bố tình yêu của mình gần như không có – ngay cả chính thất cũng chẳng dám, huống chi một người thiếp.
Tôn di nương này, ta quả không nhìn lầm: nàng đích thực là người nghĩ sao nói vậy. Ta đồng cảm với nàng, cũng hiểu cho nàng. Nếu nàng là người phụ nữ của ta, ta nghĩ ta sẽ hết lòng không để nàng phải tổn thương đến mức phải thốt ra những lời ấy. Bởi nàng thực sự yêu Phạm Tằng hết lòng hết dạ, khác hẳn với ta – thứ tình cảm ta dành cho Phạm Tằng căn bản chẳng phải tình yêu.
Đáng tiếc, Phạm Tằng sẽ không bao giờ hiểu được điều đó. Cũng đáng tiếc, ở thời đại này, nàng nhất định sẽ không có kết cục tốt.
Ta thở dài, đốt bức thư của Phong Lan, rồi cầm thư của Phạm Tằng vội vàng đi tìm thái thái.
Thái thái xem xong, mặt liền trầm xuống.
Ta nhẹ nhàng khuyên:
— Thái thái hãy bớt nóng. Đứa nhỏ đã mất rồi, vẫn nên để Tôn di nương giữ gìn thân thể là hơn cả. Huống chi Nhị gia bây giờ e là chẳng còn tâm trạng nào để làm việc. Hay là để hắn ở lại đó, đợi Tôn di nương dưỡng bệnh xong rồi cùng về. Việc nhà… giao cho người khác đi làm vậy.
Thái thái thở dài:
— Cũng chỉ còn cách ấy. Nhưng lão gia thất vọng về nó thì khó tránh khỏi rồi.
Ta cũng thở dài, không nói gì. Bà vỗ tay ta, lại quay sang khuyên ta vài câu.
Cáo từ thái thái ra về, ta mới thả lỏng vẻ mặt trở lại bình thường.
Kỳ thực chẳng có gì to tát. Lão gia dù có thất vọng, cũng chỉ có hai đứa con trai, sau này vẫn phải dùng đến hắn. Huống chi, thế hệ cháu đích tôn của chúng ta thực sự rất xuất sắc, đã quá rực rỡ rồi.
Phạm Tằng chịu chút khổ cũng tốt. Để hắn biết thế nào là không được để việc tư làm lỡ việc công chỉ vì mềm lòng.
Đợi thêm vài hôm nữa, trong phủ trên dưới đều biết chuyện này, Nghiêm thị chắc chắn sẽ đến chỗ ta châm chọc khiêu khích. Còn vị đại ca họ Phạm kia sẽ bớt cảnh giác với chúng ta một chút. Chưa hẳn là chuyện xấu.
Về phòng, ta viết thư cho Phạm Tằng. Bảo hắn cứ ở lại đó chăm sóc Tôn di nương, đợi nàng dưỡng bệnh tốt rồi hãy về, không cần lo lắng việc nhà – đã giao cho người khác làm rồi. Lại bảo người đưa thêm tiền, sách vở cho hắn đọc hằng ngày, cùng quần áo theo mùa cho mọi người.
Từ hôm ấy trở đi, Phạm Tằng cứ gửi thư về. Ta hồi âm. Hắn lại viết tiếp. Rồi hắn bắt đầu viết mấy câu đại loại như rất nhớ thương thê tử các thứ.
Ta cố gắng kìm nén để tóc gáy khỏi dựng đứng, rồi viết thư hồi âm, chỉ kể vài chuyện vặt trong nhà. Ta không thể nào viết được mấy thứ sến súa như hắn. Nhưng không hồi âm thì cũng không phải. Cuối cùng, ta vẽ hình hai đứa con đang chơi đùa, lại bảo Phạm Lịch viết một phong thư thăm hỏi, rồi sai Phạm Dược – với nét chữ mới biết viết nguệch ngoạc – viết thư giúp ta, rồi gửi đi.
Kết quả, Phạm Tằng hình như thấy rất thú vị, viết thư thành nghiện. Hai đứa bắt đầu qua lại thư từ thường xuyên.
Ta thực sự hâm mộ Phạm Tằng – vì thư của ta rất vui, nào là vẽ những khoảnh khắc đáng yêu của bọn trẻ, nào là bản viết tay nguệch ngoạc của chúng. Còn ta thì lại thực sự thương cho chính mình – vì thư của Phạm Tằng sến đến nỗi ta không muốn đọc lần thứ hai, đọc xong là nổi da gà. Ta xếp nó vào hạng tệ nhất trong lịch sử thư từ.
Khi mọi người trở về nhà, ta sắp xếp cho Tôn di nương một nơi thật tốt để tĩnh dưỡng, lại sai người mời thầy thuốc giỏi đến xem cho nàng.
Phạm Tằng đối với nàng giờ chỉ còn vẻ mặt lạnh nhạt – xem như đã nguội lạnh.
Phong Lan thì có thai. Ta rất mừng, vội vàng để nàng an dưỡng, đãi ngộ cũng như hồi Lan Chi mang thai.
Mọi việc trong nhà đều ổn thỏa. Phạm Tằng đi ra mắt lão gia và thái thái. Sau đó Phạm Lịch cùng Phạm Dược vào thỉnh an cha. Cuối cùng, trong phòng chỉ còn lại hai đứa.
Ta mỉm cười nhìn hắn, chưa kịp nói gì, hắn đã kéo ta ngồi xuống, rồi tựa đầu lên đùi ta. Mặt hắn áp vào bụng bầu đã nhô cao, tay ôm lấy eo ta. Hắn nhắm mắt lại, trông rất mệt mỏi.
Ta xoa tai hắn, chẳng nói gì, cứ để hắn yên lặng như thế. Mất con – và là con của người mình yêu – tâm trạng ắt chẳng tốt. Vừa rồi ở trước mặt lão gia và thái thái, chắc cũng bị mắng nhiều. Hắn dù không ham công danh, nhưng rất coi trọng chữ hiếu. Làm cha mẹ thất vọng, trong lòng hắn e còn khó chịu hơn.
Những ngày sau đó, hắn đều ở bên ta – người phụ nữ đang mang thai này. Dù không nói nhiều, nhưng ánh mắt hắn dành cho ta ngày càng lưu luyến sâu sắc.
Ta thấy khá kỳ lạ. Ta luôn sống đúng quy củ, gần đây cũng chẳng có sinh hoạt vợ chồng gì, thế mà tình cảm của hắn dành cho ta ngày càng nồng hậu?
Chương 11
Bởi vì khi viết thư cho Phạm Tằng, ta đều vẽ tranh kèm theo, nên ta dần dần thành thói quen vẽ. Ta thường xuyên vẽ chân dung các con, ghi rõ ngày tháng và chú thích chúng đang làm gì, nói gì. Đợi sau này chúng lớn lên mở ra xem lại, nhất định rất thú vị. Nơi này không có máy ảnh, làm thế coi như là một cách lưu giữ kỷ niệm.
Phạm Lịch và Phạm Dược đều cực kỳ thích ta vẽ cho chúng. Chúng tự chuẩn bị một cái rương, mỗi lần vẽ xong, ba mẹ con cùng ngắm nghía một phen, rồi chúng cẩn thận cất tranh vào rương, khóa kỹ, nâng niu vô cùng.
Đang vẽ tranh thì Phạm Tằng cau mày bước vào, trông rất phiền muộn.
Ta ngừng bút:
— Sao thế? Lão gia gọi chàng có việc gì à?
— Phụ thân muốn ta vào Li Viện học tập một năm.
Nơi này, các đệ tử thế gia chưa có công danh đi du học rất nhiều. Li Viện là học viện rất có danh tiếng. Không chỉ có nhiều danh sư, mà ngoài việc đọc sách còn có thể kết giao với không ít bạn bè. Dù sao, nếu được học ở nơi có tiếng tăm, tương lai con đường công danh mới thuận lợi. Du học quả thực là một chuyện tốt.
Ta đến bên cạnh hắn, vuốt đôi lông mày đang nhíu chặt, nhẹ giọng hỏi:
— Đây là chuyện tốt mà, chàng phiền não cái gì?
— Chính là… nàng sắp sinh con – hắn nắm vai ta – Ta sẽ không thể ở bên cạnh nàng, mà đi tận một năm.
Một năm trời, ta vừa vặn sinh con, dưỡng tốt thân thể, chăm sóc đứa nhỏ. Hắn không ở đây thêm bận, ta thực sự thấy rất tốt.
Ta mỉm cười:
— Không cần lo cho thiếp. Trong nhà có thái thái chăm nom, ngoài ra còn có Lan Phương các nàng ở bên cạnh, thiếp cũng biết tự chăm sóc mình. Chàng cứ yên tâm lên đường.
Hắn đi ra phía sau ôm ta, dụi mặt vào cổ ta, giọng rầu rĩ:
— Ta muốn ở bên nàng cơ.
Ta hơi ngỡ ngàng. Hắn khi nào thì trở nên giống đàn bà lụy tình, quyến luyến ta đến thế?
Ta vỗ tay hắn:
— Chính sự của chàng quan trọng hơn. Huống chi, lão gia vất vả mưu cầu tiền đồ cho chàng, chúng ta là con cái, sao có thể làm ngài thất vọng?
— Nam Nhi… Nàng cứ luôn nghĩ cho ta, chẳng bao giờ nhắc đến sự ấm ức của mình.
— Thiếp có ấm ức gì đâu? Lão gia thương yêu Lịch nhi và Dược nhi như thế, thái thái cũng thương thiếp, chàng đối với thiếp cũng tốt. Thiếp còn phải hảo hảo hiếu thuận lão gia và thái thái nữa, sao lại thấy ấm ức được?
— Nam Nhi…
Vài ngày sau, ta đĩnh bụng bầu to tiễn Phạm Tằng lên đường.
Ta vốn muốn cho Lan Chi đi theo, nhưng hắn không chịu mang theo cơ thiếp hay nha đầu nào, chỉ dẫn tôi tớ và gia nhân.
— Ta đi du học, mang cơ thiếp theo làm gì? – Phạm Tằng nói thế.
Ta chiều theo ý hắn. Chẳng qua, chờ hắn trở về rồi dẫn theo một hai vị thiếp ở bên ngoài cũng chẳng có gì lạ. Con gái của Lan Chi còn nhỏ, ta cũng chẳng nỡ bắt nàng đi theo.
— Thiếp sẽ hảo hảo hiếu thuận lão gia và thái thái. Biểu muội nơi đó chàng cũng không cần lo, thiếp sẽ cho thầy thuốc mỗi tháng đến khám cho nàng. Đã vào học viện thì chuyên tâm đọc sách, đừng bận tâm việc trong nhà – ta khoác áo choàng cho hắn, nhẹ giọng dặn.
— Nàng càng phải chăm sóc bản thân cho tốt. Lúc rảnh phải viết thư cho ta. Nếu thân thể không khỏe, nghìn vạn lần đừng có miễn cưỡng – hắn trái lại nắm chặt vai ta, dặn dò.
Ta mỉm cười đáp ứng, tiễn hắn ra cửa.
Lan Chi, Phong Lan đều đi theo sau ta, hành lễ chào hắn. Hắn lại dặn các nàng phải chăm sóc ta thật tốt.
Tôn di nương chống đỡ thân thể yếu ớt bước ra tiễn, sâu kín gọi một tiếng:
— Biểu ca~
Ta nghĩ họ cần không gian riêng để nói lời tâm tình, liền hơi nghiêng người lảng tránh.
Phạm Tằng chỉ thản nhiên nói:
— Thiếp bảo trọng thân thể.
Rồi hắn quay sang dặn ta vài câu, sau đó bước ra khỏi cửa, để lại Tôn di nương khóc đến nỗi lê hoa đái vũ. Ta vội sai người đưa nàng về phòng.
Tiễn hắn xong, ta sang chỗ thái thái thỉnh an.
Bà nhìn kỹ mặt ta một hồi, mới nắm tay ta nói:
— Luận về tri thức hiểu lễ nghĩa, chẳng ai hơn được con. Bao nhiêu năm nay, con không chỉ sinh cho Phạm gia hai đứa cháu trai giỏi, mà còn chưa bao giờ nổi giận hay to tiếng với thằng Tằng. Dù có kẻ chẳng hiểu chuyện, phòng của con vẫn luôn hòa thuận vui vẻ, chưa từng gây ra chuyện to tát gì. Thằng Tằng lấy được người vợ như con, thực sự là phúc khí của nó.
Ta cười đáp:
— Thái thái nói quá lời rồi. Con được xuất giá vào một gia đình tốt như thế này, lại có thái thái thương yêu, đối đãi với con như mẹ ruột – con mới là người có phúc khí ạ.
Những lời xu nịnh ấy lập tức khiến bà cười tươi. Kỳ thực, cũng nhờ có Nghiêm thị làm tấm gương so sánh, quan hệ mẹ chồng nàng dâu của chúng ta mới hòa thuận đến vậy.
Chẳng bao lâu sau, ta lại sinh một bé trai.
Bởi vì Nghiêm thị và Lan Chi đều sinh con gái, mọi người vốn cho rằng thai nhi của ta bị ảnh hưởng, nhất định sẽ ra con gái. Ấy thế mà lại là con trai.
Sinh con trai tốt hơn. Không phải ta trọng nam khinh nữ, mà bởi ta chỉ biết cách nuôi bé trai, chứ chẳng biết nuôi bé gái thế nào. Ngày còn ở nhà mẹ đẻ, ta đã chẳng hiểu nổi mấy vị tỷ tỷ của ta. Nếu giả sử ta biết cách nuôi con gái, thì dù ta không để ý chuyện trượng phu ba vợ bốn nàng hầu, nhưng chưa chắc con gái ta cũng không để ý. Nghĩ đến đó, ta đã thấy đau đầu.
Vẫn là sinh con trai hơn – tương lai chúng đi gây họa cho nhà người ta. Sinh con gái, sau này làm vợ người ta, suốt ngày phải chịu ấm ức. Dù ta là cha hay mẹ, trong lòng cũng sẽ không yên.
Lão gia và thái thái đều rất mừng. Thái thái còn nắm tay ta bảo: hồi trước xem tướng đã nói ta vượng phu vượng tử, quả nhiên không sai. Lão gia đặt tên cho con ta là Phạm Hề.
Ta không tiện viết thư, liền bảo Phạm Lịch và Phạm Dược viết, rồi in bàn tay bàn chân bé xíu của cục cưng vào, sau đó gửi đi. Đương nhiên, chúng ta cũng giữ lại một bản, cất vào chiếc rương ấy.
Từ đó về sau, Phạm Lịch và Phạm Dược sinh ra niềm hứng thú vô cùng mãnh liệt với việc ghi lại quá trình trưởng thành của em trai. Nào là lúc nào nó biết đút ngón tay vào miệng, nào là lúc nào mọc răng sữa, nào là lúc nào biết lẫy… Chúng còn mê hơn cả ta. Hai đứa này từ nhỏ đã luôn ra dáng tiểu đại nhân, vậy mà khi tắm cho em, chúng cười vui không khớp miệng.
Phạm Hề càng lớn càng giống đứa con ngốc kiếp trước của ta, đến cả tính tình cũng giống. Ta hơi nghi hoặc: chẳng lẽ ông trời đang bù đắp cho ta?
Phạm Tằng tháng nào cũng viết thư về. Hắn kể về cuộc sống hàng ngày, những điều bổ ích học được, cùng nỗi nhớ dành cho ta và các con. Mấy dấu tay dấu chân của cục cưng hình như khiến hắn vô cùng thích thú. Dù chưa gặp mặt, hắn vẫn vô cùng quan tâm đến đứa con này.
Thư ta viết thì ngày càng đơn giản. Trước tiên nói về sức khỏe của lão gia và thái thái đều tốt, sau đó kể chuyện trong nhà, rồi đến chuyện của ba đứa trẻ, cũng đề cập đến thân thể Tôn di nương và cái thai trong bụng Phong Lan. Cuối cùng ta vẽ một bức họa – có khi là hai anh tắm cho em, có khi là từng đứa một: Phạm Lịch rung đùi đọc sách, Phạm Dược chăm chú luyện viết chữ, Phạm Hề cười hì hì ngắm nhìn các ca ca… Ta ghi chú vài dòng rồi gửi đi.
Có những bức vẽ quá đẹp, Phạm Lịch và Phạm Dược tiếc lắm, không muốn ta gửi cho cha chúng, vì chúng muốn cất vào rương. Ta đành phải vẽ lại một bản khác.
Thỉnh thoảng, ta dắt ba đứa con về thăm nhà mẹ đẻ.
Phạm Lịch và Phạm Dược hiển nhiên nhận ra ai là người thực sự thương ta. Chúng rất thân thiết với bà ngoại. Mẫu thân cũng vô cùng yêu thích hai đứa nhỏ, thậm chí còn thương chúng hơn cả mấy đứa cháu nội.
Từ sau khi sinh Phạm Hề, hễ có nữ khách đến, thái thái thường gọi ta ra tiếp đón. Bà bảo các bà ấy muốn “dính chút phúc khí” để sinh được con trai – làm ta dở khóc dở cười. Lúc thái thái nói mấy lời ấy, vẻ mặt đắc ý lắm. Ta liền thuận thế kết giao một ít thiện duyên. Ở quan trường, có nhiều bằng hữu bao giờ cũng tốt hơn. Ngoại giao tốt với các phu nhân, sau này sẽ có chỗ dùng.
Phong Lan đủ tháng, sinh một bé gái khỏe mạnh.
Ta có ba con trai và hai con gái kế, coi như con trai con gái đều đủ cả. Nghiêm thị rất không vui, bởi nàng lại có thai. Ngày nào nàng cũng ồn ào, nói bóng nói gió rằng Phong Lan mang đến xui xẻo cho nàng, chỉ cây dâu mà mắng cây hòe.
Lão gia và thái thái cũng thực sự hy vọng nàng sinh được con trai – dù sao Phạm Tằng vẫn là con thứ. Vì thế thái thái khuyên ta nhường nhịn một chút.
Nhưng Nghiêm thị hiển nhiên chẳng biết chừng mực. Thấy thái thái không lên tiếng, thấy ta luôn nhường nhịn, nàng càng lấn tới. Về sau đến cả thái thái cũng không chịu nổi nàng nữa, lại không muốn mấy đứa cháu trai bảo bối phải chịu ấm ức vì nàng, liền dẫn chúng ta đi biệt viện lễ Phật. Ta đem theo cả Lan Chi, Phong Lan, hai đứa con gái, cùng Tôn di nương.
— Con đây là dọn nhà à? Mang theo nhiều người thế? – thái thái cười nói.
— Để các nàng cùng đi, dính chút Phật khí, với cả phúc khí của thái thái nữa ạ.
— Con khỉ nhà ngươi, nói chuyện thật dễ nghe – thái thái cười toe toét – Ta còn chẳng biết cái tính bao che của con sao? Nhưng tốt đấy, biết bảo vệ người của mình mới là khí độ của bậc chủ mẫu.
Thế là đoàn người chậm rãi lên đường, để lại Phạm phủ cho một mình Nghiêm thị tiếp tục làm mưa làm gió. Người đàn bà ngốc này, dù lần này có sinh được con trai đi chăng nữa, kết cục cũng chẳng ra gì. Để nàng tự gây tự chịu vậy. Ngày đầu mới gặp, nàng còn là một tiểu thư đoan trang khí phái, thế mà giờ càng ngày càng mê muội.
Chương 12
Phạm Tằng gửi thư nói: hắn rất vui khi nhìn thấy tranh vẽ các con, nhưng hắn cũng rất muốn nhìn thấy tranh vẽ ta. Ta đành phải tự vẽ một bức chân dung của mình, lại dưới sự năn nỉ của Phạm Lịch và Phạm Dược, vẽ thêm một bức tự họa tặng cho chúng. Chúng vô cùng mừng rỡ, cất vào rương bảo bối. Còn thư từ và tranh thì sai người đưa đi.
Lúc nhận được hồi âm, Phạm Tằng lại viết trong thư rằng hắn đã biết ta bị ủy khuất. Ta hơi bồn chồn, hỏi qua người đưa tin, mới biết hắn đã hỏi thăm tình hình trong nhà gần đây, biết được thái thái đã dắt ta đi lễ Phật. Lần đầu tiên trong thư, hắn bộc lộ sự bất mãn với ca ca và tẩu tử của mình. Có lẽ bởi chuyện đã ảnh hưởng đến cả thái thái – đến mức bà phải ra ngoài tìm chốn thanh tịnh – điều ấy khiến hắn nổi giận, mới có thể thay đổi thái độ luôn kính trọng đại ca.
Ta vội viết thư cho hắn, bảo rằng thời kỳ mang thai, tâm tình phụ nữ thường không tốt, thái thái chỉ là lo lắng cho đứa nhỏ trong bụng nàng, còn ta chẳng hề chịu ấm ức gì, khuyên hắn không cần lo lắng. Lại viết rằng nơi đây rất thanh tịnh, phong cảnh đẹp, các con rất thích. Mỗi ngày giúp thái thái sao chép một ít kinh Phật, lòng ta cũng thấy an bình. Ngay cả Tôn di nương vốn luôn yếu ớt, đến đây rồi thân thể hình như cũng khá hơn một chút, lại được dính Phật khí, tính tình càng thêm bình thản… vân vân.
Huynh đệ bất hòa tuy là chuyện thường thấy, nhưng bề ngoài ai cũng giữ thể diện cho nhau. Với tính cách của Phạm Tằng, ta thực sự sợ hắn sẽ bộc phát cơn giận ra ngoài, lúc đó mọi người sẽ rất khó xử. Dù sao, cãi nhau với đại ca chẳng mang lại lợi ích gì.
Cuối cùng ta cũng trấn an được hắn. Lần sau viết thư lại cho ta, hắn không còn bộc phát sự bực tức với ca ca tẩu tử nữa, mà lại bắt đầu kể những lời tâm tình dài lê thê với ta.
Phong Lan và Lan Chi sinh con gái, lão gia tất nhiên không tự mình đặt tên. Các nàng bảo ta: cứ để mẹ cả đặt tên giúp, các nàng không để bụng. Lũ con gái cùng lứa này, tên đều có chữ “Tư”. Ta lần lượt đặt tên các bé là Phạm Tư Du và Phạm Tư Cẩn – cả hai đều mang ý nghĩa “mỹ ngọc”. Ta thấy rất hay, Phong Lan và Lan Chi cũng rất thích. Nếu sau này ta có thêm một bé gái nữa, sẽ đặt tên là Phạm Tư Triết.
Ở trên núi hơn một tháng, đại ca đi công tác xa trở về Phạm gia, tự mình đến đón chúng ta về nhà, còn hướng thái thái xin lỗi, nói rằng hắn đã không để ý dạy dỗ vợ mình, làm mẫu thân bị ủy khuất.
Thái thái chỉ thản nhiên nói một câu:
— Không sao. Nó đang cưu mang cháu đích tôn quý giá của Phạm gia ta, tất nhiên phải được chiều chuộng một chút.
Câu nói ấy khiến đại ca đổ đầy mồ hôi lạnh.
Lần này trở về nhà, Nghiêm thị cuối cùng cũng yên tĩnh hơn. Ở trên núi, ta vẫn dạy Phạm Lịch và Phạm Dược học – cũng chỉ là cầm kỳ thư họa mà thôi. Chúng thích học cái gì, ta dạy cái đó. Lúc trước, cái giáo trình dành cho khuê nữ bỗng nhiên phát huy tác dụng.
Xuống núi rồi, đương nhiên không thể tùy tiện như vậy nữa. Phạm Lịch phải trở lại học với lão tiên sinh. Còn Phạm Dược thì rất có hứng thú với việc học hành, chủ động xin ta cho đi nghe giảng. Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng nó đã biết tự chủ động, ta bèn cầu xin lão gia. Lão gia kiểm tra nó một phen, rất kinh ngạc trước trí tuệ của nó, liền cũng cho nó đi theo tiên sinh đọc sách.
Buổi sáng chúng đi học, buổi chiều thì cùng ta học cầm kỳ thư họa, hoặc chơi với em trai, hoặc hai anh em ngồi đánh cờ. Hai đứa lớn đều trưởng thành cực kỳ sớm, chỉ có Phạm Hề là cả ngày cười ngây ngô – hẳn là một đứa trẻ bình thường. Có lẽ chính vì nó bình thường, ai chọc cũng cười, nên ai cũng thích nó. Ngay cả lão gia cũng thích bế nó nhất – chắc đại khái ôm nó có cảm giác thành tựu của một ông nội đang chơi với cháu?
Mỗi ngày ta đi dạo đều dắt theo bọn chúng, bảo chúng chạy nhảy hoạt động, đừng để thành một lũ ma ốm. Cũng may chúng di truyền thể chất và khả năng ăn uống của ta, đứa nào cũng rắn chắc khỏe mạnh. Con nhà thế gia phải học chút cưỡi ngựa, bắn cung, kiếm thuật. Đợi thêm hai năm nữa, cũng nên mời một võ sư cho Phạm Lịch.
Có những bức thư Phạm Tằng viết có thể xem như truyện cười. Ví dụ bức này:
“Ái thê Nam Nhi:
Gần đây nàng khỏe không? …(tỉ tỉ những chữ sến súa)…
Hôm qua cùng bạn hữu đi du ngoạn, nửa đường gặp mưa to, phải tá túc vào một nhà nông. Ban đêm, con gái nhà ấy đến đưa gối, dọa ta và bạn hữu suýt chết. Nàng hỏi vì sao ư? Hóa ra mặt nàng ta đen như mực tàu, miệng rộng như cái bát, đôi mắt to như chuông đồng lập lòe phát sáng, làm chúng ta tưởng có gấu trong núi lạc đường xông vào phòng. Ta và bạn hữu dìu nhau, run cầm cập chạy trối chết. Mãi đến khi nghe sau lưng một giọng nữ thô như nam giới gọi một tiếng ‘khanh’, chúng ta mới biết hóa ra là người. Trận hù dọa ấy suýt lấy đi nửa cái mạng của ta. May thay hôm nay nhận được thư của nương tử, như có suối nước ấm chảy vào lòng, ta mới hồi sinh trở lại cõi nhân gian…”
Hắn cũng chẳng phải không biết hài hước, chỉ có điều hơi quá lời một chút. Nghĩ đến cô gái nông gia ấy chắc chỉ là da ngăm đen một chút, vậy mà bị hắn vẽ thành Trương Phi tái thế. Miệng rộng bằng cái bát – thế thì còn là người sao? Bức thư này làm ta cười một trận thỏa thích.
Thế là ta viết thư hồi âm trêu chọc:
“Nữ nhân tướng mạo kỳ lạ như thế, ắt hẳn là kỳ nhân. Dù Nhị gia không nạp nàng làm thiếp, cũng nên cố gắng rước về. Nuôi nàng trong phòng làm thần hộ mệnh, thì ta và các con cùng mọi người trong viện sẽ chẳng còn lo trộm cướp hay cường đạo, từ đây an tâm hưởng phúc.”
Hắn lại hồi âm:
“Nếu quả thế, mọi người có thể an tâm nghỉ ngơi, nhưng phu quân ta đây phải ngày ngày hoảng sợ, đêm đêm ác mộng. Nam Nhi nỡ lòng nào?”
Thư qua thư lại, dù không gặp mặt, quan hệ của chúng ta cũng thân thiết thêm không ít. Qua thư từ có thể thấy, hắn ở học viện sống rất thoải mái, thư gửi về đều mang một chút phong thái hào sảng, khác hẳn với lúc ở nhà.
Phạm Tằng vẫn theo lệ viết thư thỉnh an lão gia, lại thường xuyên viết thư tâm tình nói chuyện riêng với ta. Thế nhưng hắn chẳng viết một phong thư nào cho Tôn di nương – điều đó khiến ta hơi băn khoăn. Vì thế, lúc ta sai người đưa quà và quần áo cho hắn, cũng gửi kèm bức thư rất dày do Tôn di nương viết. Ấy vậy mà hắn chẳng hồi âm lấy một lần. Quan hệ giữa họ đã tệ đến mức ấy rồi sao?
Bất quá, chuyện ấy chẳng liên quan đến ta. Thỉnh thoảng ta viết thư có đề cập một chút đến sức khỏe của Tôn di nương, hắn hồi âm chỉ nói “có nàng ở đây, ta yên tâm” – chẳng thêm một câu nào khác.
Còn Tôn di nương thì vẫn ngày ngày ngóng trông hồi âm của hắn. Đợi mãi chẳng thấy, ánh sáng trong mắt nàng dần tắt. Hai người này – một kẻ cuồng dại không đổi, một kẻ không chịu buông tha. Chuyện tình cảm vốn dĩ là thứ mập mờ khó nói rõ như vậy.
Ta chợt nhớ đến bức thư Phong Lan đã viết cho ta. Nhớ lại cảnh Tôn di nương từng đối diện chỉ trích Phạm Tằng “mê hoặc một ả đàn bà thanh lâu phóng đãng”. Mà chuyện ấy, Phạm Tằng vốn cực kỳ sĩ diện, không muốn ai nhắc đến. Đàn ông ai chẳng sĩ diện? Huống chi trước mặt một người đàn bà yếu đuối luôn phụ thuộc vào mình, lại là người mình từng yêu thương – hắn càng sĩ diện hơn. Cha mẹ trưởng bối có thể trách mắng hắn, vợ cả có thể khuyên bảo hắn, nhưng một tiểu nữ nhân phụ thuộc vào hắn mà nói với hắn những lời như thế – e rằng đã giẫm phải cái tôi trong lòng hắn. Bởi thế hắn mới nguội lạnh.
Vì sự việc lần trước, hắn đã xa lánh Tôn di nương một thời gian, trong lòng chẳng phải không có chút áy náy. Nhưng bị đối diện chỉ trích, không chỉ mất hết mặt mũi, trong lòng hắn ắt cũng nghĩ: hóa ra nàng ta nhìn ta như vậy, có lẽ từ trước đến nay nàng chưa từng thực sự tin tưởng ta, trong mắt nàng ta, ta chẳng qua là một kẻ hồ đồ mê muội phong trần nữ tử, một tay ăn chơi trác táng?
Áy náy cũng chẳng còn nữa, thay vào đó là chán ghét và phẫn nộ. Bởi thế hắn mới nguội lạnh.
Đó là suy đoán của ta dưới góc nhìn của một người đàn ông. Dù sự thật thế nào, Tôn di nương quả thực đã nói những lời không nên nói, không hiểu ứng xử, cũng chẳng hiểu người đàn ông của mình. Thậm chí, dù hai người có lưỡng tình tương duyệt, vẫn không nên nói thẳng vào điểm yếu ấy – nó thực sự tổn thương tình cảm.
Khi may đồ mới, ta chọn vài loại vải tốt cho mình và các con, rồi từ loại thượng phẩm, ta chọn màu xanh nhạt cho Phong Lan, màu vàng nhạt cho Lan Chi, màu nguyệt bạch cho Tôn di nương, màu phấn hồng cho hai bé gái.
Lại lấy hàng nhất phẩm thưởng cho nha đầu và nhũ mẫu trong viện. Người trong viện ta, lúc nào quần áo cũng rất đẹp. Mấy thứ này đều lấy từ trong kho, chẳng tốn tiền mua. Những thứ mình không mặc hết, không bằng dùng để làm đẹp cho các nàng. Ta vốn thích ngắm mỹ nhân, thói quen đi đâu cũng dắt theo một dải mỹ nhân vẫn còn nguyên. Mỗi lần có đồ mới, cả viện đều vui như mở hội. Đàn bà mà, ai chẳng thích mặc đẹp?
Thậm chí thái thái còn nói đùa với các nữ khách rằng:
— Các bà mà thấy nha đầu trong phủ ta ăn mặc xinh đẹp rực rỡ, thì chắc chắn là người hầu trong viện của con dâu thứ hai ta đấy. Con bé ấy à, toàn dồn đồ tốt về viện nó, đối đãi với hạ nhân lại rộng rãi. Cũng may con trai thứ hai nhà ta có định lực.
Mọi người cười vang, còn ta thì dở khóc dở cười. Bất quá, danh tiếng khoan hậu đã được truyền đi, coi như cũng là một chuyện tốt.
